Tháng Tư! Nghĩ Xa Thôi Lại Nghĩ Gần!

Chuly sưu tầm

Tháng Tư! Nghĩ Xa Thôi Lại Nghĩ Gần! 
Written by Nguyễn Thanh Ty

Tháng tư lần thứ ba mươi tư!
Tháng tư trở về, mang theo mùa Xuân về với miền Đông Bắc Hoa Kỳ.
Cái rét buốt của giá tuyết mùa Đông kéo dài sáu tháng rồi cũng đã qua. Khí hậu ấm dần.Vạn vật trổi mình thức giấc sau giấc ngủ say hơn một trăm hai mươi ngày. Đất bắt đầu mềm ra. Quanh nhà, những chồi non của các loài hoa sống hàng năm (annual flower) đang nhú lên tua tủa khỏi mặt đất giống như những mũi giáo. Bầu trời trở nên trong xanh, cao tít. Tiếng chim đã nghe ríu rít đâu đây. Mặt biển phẳng như một tấm gương, phản chiếu lấp loáng ánh mặt trời. Những ụ tuyết chồng chất cao hơn đầu gối, dọc theo hai bên lề đường của mấy trận tuyết cuối tháng ba do xe ủi tuyết đẩy vào, đang tan dần thành những dòng nước nhỏ chảy xuống lòng cống. Tiếng róc rách nghe rõ mồn một trong cái tĩnh mịch yên ắng của khu phố nhỏ.
Rồi chỉ tuần sau, hoa thủy tiên (daffodil) trước sân nhà đã nở rộ, khoe những cánh hoa mỏng manh màu vàng hoàng yến rực rỡ, rung rinh cười với gió xuân, trong ánh nắng chan hòa. Tuần sau nữa, hoa uất kim hương (tulip) cũng tưng bừng khoe sắc, đủ các màu đỏ, cam, vàng, tím…chen lẫn với thủy tiên. Mấy bụi hoa mộc lan (magnolia) ở góc sân cũng nở tràn đầy một màu tím hồng, che khuất hết những cành nhánh khẳng khiu chưa kịp ra lá xanh non.
Hoa ở khắp nơi. Đâu đâu cũng rưc rỡ, lộng lẫy màu sắc của hoa.
Mùa Xuân đến thật rộn ràng, xôn xao với nắng với hoa.
Lại một lần nữa, ý định rời bỏ cái thành phố Quincy của tiểu bang Massachusetts, tuy nhỏ nhưng rất gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ, yên tĩnh và rất đáng yêu đã cưu mang tôi suốt thời gian dài cư ngụ, (có đến sáu tháng lạnh căm căm, lạnh tê tái này), trong lòng tôi càng nguội lạnh dần.
Có điều gì mâu thuẩn trong tôi? Cứ mỗi lần mùa đông ập đến với cái rét thấu xương, tím mặt, tím môi, hai vành tai tê cứng lại như cái bánh đa nướng, có cảm tưởng có thể bẻ gãy rời ra từng miếng nhỏ một, thì ý nghĩ phải “mu” đến miền nắng ấm để ở, lại thôi thúc tôi mãnh liệt.
Tôi cũng đã từng đến hoặc dọ tìm các nơi có nắng ấm bốn mùa như Orlando – Florida, Santa Ana – Cali, Houston – Dallas – Texas… để tìm kiếm một nơi có khí hậu ấm áp thích hợp cho cơ thể “thất thập” già nua còm cõi, phát sinh lắm bệnh tật của mình. Nhất là cái bệnh quái ác tê thấp đau khớp, nhức mõi khắp châu thân mỗi khi trời trở lạnh.
Vậy mà, khi mùa xuân trở về, nhìn thấy cảnh vật bừng bừng trỗi dậy với sức sống mãnh liệt của cây cỏ, hoa lá biến chuyển từng ngày, từ lúc đâm ra những chồi bụ bẩm đến lúc trổ nụ, bung hoa, tỏa lá với vô vàn hương sắc, tôi lại thấy yêu mến cái thành phố này vô cùng. Nhất là sức khoẻ tôi lại phục hồi trở nên tốt hơn, tôị lại không nở xa rời nó.
Đâu phải một đôi năm, đã mười tám năm rồi chứ có ít ỏi gì. Ngày đầu tiên đặt chân lên miền đất lạnh này, đúng ngay đêm Giáng Sinh, thấy tuyết bay phấp phới khắp trời, bầu trời tỏa sáng một màu bạc như có thắp đèn nê ông.Tuyết trắng xóa trên các cây thông hai ven đường, trắng khắp mái nhà. Hoa tuyết rơi cả trên tóc, trên vai. Cảnh đẹp như tranh vẻ. Tôi ngất ngây, say sưa ngước mắt ngắm nhìn và giơ tay hứng lấy từng bông hoa tuyết để chúng tan dần trong lòng bàn tay mà tưởng chừng như mình lạc trong cảnh thần tiên
Ngờ đâu, sáng hôm sau bị cảm lạnh ngay, sổ mũi, hắt xì liên tục và phải nằm trùm mền, xoa dầu nóng, nằm lị một chỗ trên giường, hết một tuần lễ. Tôi đã biết sợ tuyết từ ngày đó. Rồi suốt ba tháng đi học nghề, vất vả co ro trong bão tuyết, lội tuyết mà đi, tuyết quất từng cơn trên mặt. Tuyết chồng chất cao tới đầu gối. Tuyết đổ liên tục. Hết ngày này sang ngày khác. Nghe nói đã có năm tuyết ngập tới tận cửa sổ, mọi giao thông đều ngưng trệ, bế tắc. Trực thăng phải thả dù thực phẩm cứu trợ.
Nghĩ đến vẫn còn thấy … ớn.
Những năm kế tiếp, mỗi sáng đi làm phải thức dậy từ năm giờ để xúc tuyết, dọn cho trống một lối nhỏ đủ để “de” chiếc xe cà tàng ra khỏi “rai quay” cũng ná thở, hụt hơi rồi.
Sau khi về hưu được đôi năm, tôi lại có ý nghĩ chia thời gian ra làm hai, sáu tháng lạnh về Việt Nam trốn đông, sáu tháng nắng ấm sẽ trở lại thành phố này. Thật ra, thoạt đầu tôi có ý muốn về ở hẵn tại Việt Nam để sống những năm, tháng cuối đời còn lại của mình. Phần con cháu, chúng đã đâu vào đấy rồi, không còn là mối ưu tư nữa.
Quê tôi là một tỉnh nhỏ ở miền trung có nắng ấm, có biển, có núi, có sông, có đồng ruộng, nhiều phong cảnh hữu tình, đã được quốc tế đánh giá là một trong những bãi biển du lịch đẹp của thế giới. Ở đó, cha mẹ tôi khi qua đời đã để lại cho tôi một ngôi nhà khang trang, tọa lạc ngay trung tâm thành phố. Như thế tôi có đủ hoặc dư điều kiện của đời sống trung bình để trở về an cư và hưởng tuổi già.
Nhưng vẫn chưa thể được! Đất nước tôi vẫn còn đầy rẫy áp bức, bất công và vô pháp luật. Mấy tháng về thăm nhà và thăm dò khi vừa nghỉ hưu cách đây ba năm, đã đủ cho tôi nhận thức được rằng cái chế độ hiện hành vẫn tiếp tục độc tài, độc ác, toàn trị một cáh rất sắt máu!
Năm 1991 tôi rời Việt Nam, để đi định cư tại Mỹ, diện tị nạn H.O, trong bữa tiệc chia tay, tôi đã hứa chắc với thân nhân và bạn bè rằng: “Chỉ trong vòng năm năm, tôi sẽ về, nhất định sẽ trở về”.
Bởi tôi tin tưởng rằng đã hơn 15 năm cưỡng chiếm miền Nam, gọi là “thống nhất” đất nước, những người lãnh đạo ở Bắc Bộ phủ từ trên núi xuống, từ trong rừng ra… đã làm cho đất nước ngày thêm điêu linh, đói khổ bởi sự ngông cuồng, kiêu căng, tự cao tự đại của họ, những tên chóp bu tự xưng là kẻ thắng trận, bằng với những cái đầu óc ít học ngu dốt, mắt nhìn xa chưa quá tầm tay, sự suy nghĩ an dân, trị nước, kinh bang tế thế rộng chưa đầy miệng giếng, chỉ biết mỗi một việc chém giết và trồng sắn, khoai, phá rừng đốn củi để sống qua ngày, giờ đây, họ sẽ vì tổ quốc, vì nhân dân mà mở mắt ra để nhìn thấy sự tiến bộ của thế giới bên ngoài, ngay cả các lân bang khi xưa còn lạc hậu, kém cõi hơn mình mà nay cũng đã giàu mạnh, văn minh hơn, để có sự suy nghĩ đúng đắn mà từ bỏ cái chủ nghĩa cộng sản lỗi thời hại dân, hại nước, trở về với dân tộc, tự túc tự cường mà vươn lên, đi tới.
Sau năm năm chờ đợi với nhiều hy vọng tình hình nước nhà sẽ có sự thay đổi lớn về chính trị, về kinh tế… để mọi người tị nạn tản mác khắp năm châu, bốn biển trên thế giới có thể an lòng, hân hoan trở về lại với quê hương, với tổ quốc đất mẹ.
Nào ngờ đâu, cái tập đoàn lãnh đạo Hà Nội hóa ra, trước sau, vẫn chỉ là những kẻ “mãi quốc cầu vinh” giả nhân giả nghĩa, tráo trở, lưu manh, mặc chiếc áo giấy vàng mã “cách mạng”, hô khẩu hiệu “đánh Mỹ xâm lăng” dành độc lập tự do cho nhân dân, chỉ để phỉnh gạt nhân dân cả nước từ Bắc tới Nam theo chúng, rốt cục đã hiện nguyên hình là một lũ cốt đột ngu si và mù quáng chạy theo cái bóng ma cộng sản đã bị chết không kịp giãy ở Liên Xô, Đông Âu và cam tâm quì gối bái lạy bọn Trung cộng, dâng đất nước cho chúng để được chúng “bảo kê” cho cái ghế quyền lực thống trị bền vững đời đời.
Đất nước tôi, thắm thoát đã 34 lần tháng tư đi qua. Tháng tư năm sau càng tồi tệ, bi đát hơn tháng tư năm trước. Những tháng tư tang tóc, buồn thảm cho nhiều triệu người, cả Bắc lẫn Nam.
Mặc cho dân chúng lầm than cơ cực, bọn chóp bu Ba Đình vẫn cứ vô tâm, vô cảm cùng nhau rượu thịt ngập tràn, ăn mừng hả hê với “cái chiến thắng tháng tư lượm được của đảng ta”, y hệt loài súc đồ vẫn dững dưng, thản nhiên thè lưỡi liếm láp, trau chuốt bộ lông đẹp đẽ của mình trước sự khổ đau của đồng loại.
Trong khi nơi đất tạm dung, mỗi lần tháng tư đến đều mang theo một mùa Xuân xanh tươi, ấm áp trở về với muôn hoa, muôn sắc với nhựa sống tràn trề, với niềm hy vọng chứa chan cho hôm nay, cho ngày mai, cho thế hệ tương lai, cho trẻ con, cho người già một đời sống bình yên, an cư lạc nghiệp trong một xã hội trật tự, an toàn có pháp luật bảo vệ.
Mỗi lần tháng tư đến, lại thêm một năm cách biệt quê nhà, tôi càng không nỡ xa lìa cái thành phố nhỏ thân thương của đất nước xa lạ này, đáng lẽ ra tôi đã nói lời chia tay với nó từ lâu, khi tôi nghĩ về quê nhà với một xã hội hỗn độn, bát nháo, bầy hầy của nhà cầm quyền Cộng sản với danh xưng là chính phủ, chính quyền mà toàn làm những chuyện tà ma, bá đạo, bẩn thỉu, ti tiện của đám lưu manh, côn đồ đầu đường xó chợ, bến xe đò của xã hội đen, trong lúc miệng lưỡi lúc nào cũng rêu rao thượng tôn pháp luật, sống và làm việc theo hiến pháp, khiến tôi lại vô cùng chán ngán, tởm lợm.
Mỗi khi nhìn thấy mấy gương mặt của 15 Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương đảng Cộng sản in chần vần trên báo đảng tôi cứ liên tưởng và hình dung tới những bãi phân người trộn với dầu cặn, mắm tôm do đảng sai bọn cẩu trệ đem ném lênh láng trước bậc thềm cửa nhà bà Trần Khải Thanh Thủy.
Mười một tấm hình biểu trưng “văn hóa ném phân” của đảng Cộng sản Việt Nam mà bà Thanh Thủy chụp lại trước cửa nhà có cẩn thận chua bên dưới một cách trang trọng: “Đây là tư tưởng Hồ Chí Minh”, được truyền đi khắp thế giới, mà bất cứ ai nhìn vào cũng phải tởm lợm, ói mửa.
Tởm lợm, ói mửa không phải vì cái bẩn thỉu, dơ dáy bầy nhầy của bãi phân lênh láng trước cửa nhà mà người ta tởm và ói vì hình ảnh 15 khuôn mặt nung núc thịt đó chen chúc trong đống phân màu đen lẫn màu vàng nhầy nhụa, nhoe nhoét.
Hãy tưởng tượng xem, nếu có kẻ nào mang bộ mặt đó đứng đối diện với bạn, chưa kịp mở miệng nói tiếng gì thì chắc chắn bạn đã ói ra mật xanh, mật vàng ngay tức khắc rồi.
Vậy mà gia đình bà Trần Khải Thanh Thủy với những đứa con còn rất bé và hàng xóm đã phải nhăn mặt, nhíu mày đau khổ chịu đựng nó đến 11 lần trong thời gian chưa đầy hai tháng. Và phải khổ sở bịt mũi, che mồm để quét dọn 15 khuôn mặt hối thối nồng nặc đó đi cho khuất mắt, khuất mùi.
Cái đòn bần tiện đáng xấu hổ này cũng đã được đem ra đối xử nhiều lần với nhà “cách mạng lão thành” Hoàng Minh Chính đã một đời theo đảng, chỉ vì nay biết mình lầm lỡ, hối hận quay đầu trở lại với dân, thẳng tay từ bỏ đảng, nên đảng “trả ơn” bằng những thứ “sơn hào hải vị” mà đảng dùng để “bồi dưỡng” hàng ngày, cho đến lúc chết.
Pháp luật đâu? Công lý đâu? Hiến pháp của cái xã hội gọi là Xã hội Chủ nghĩa đi đâu? Cái gọi là chính quyền ở đâu? Tất cả những thứ nhân danh “nhân dân” ở đâu? Sao không bảo vệ an nguy cho dân?
Đối phó với một nhà văn bất đồng chính kiến, một người đàn bà yếu đuối, lắm bệnh tật mà một bộ máy công an được trang bị vũ khí tận răng, khổng lồ nhất nhì thế giới, của Bắc Bộ phủ lại không có đủ sức mạnh để áp chế, không có khả năng đối luận với bà để làm sáng tỏ công lý, sáng tỏ sự thật, lại cho bọn đầu trâu, mặt ngựa đi rình rập, lén lút giữa đêm khuya làm những chuyện cẩu trệ, đốn mạt, ném cứt đái vào nhà người ta như thế thì còn mặt mũi nào nữa để vênh mặt câng câng xưng là anh hùng vô sản? là chính phủ? là chính quyền?
Trông cái cảnh khốn nạn, khốn khổ của gia đình bà Thanh Thủy, đứa con sinh ra, lớn lên trong lòng Xã hội Chủ nghĩa mà còn bị đối xử man ri, mọi rợ như thế, thì sá gì tôi là một “thằng Ngụy rặc nòi”, khi tôi về ở Việt Nam di dưỡng tuổi già, ngày ngày mấy tên công an Phường cắc ké đến “xin đểu” tiền mà không thỏa mãn được lòng tham của chúng, chắc chắn chúng cũng sẽ giở trò đó ra ngay.
Chắc lúc đó tôi sẽ rùng mình ghê tởm, nộ khí xung thiên, tức ói máu ra mà chết.
Trong mấy năm gần đây, đã có nhiều ông, bà “Việt kiều yêu nước” ngây thơ (hay tham lam và ngu muội!) đã nghe lời dụ dỗ đường mật của mấy con chồn cáo, con cháu của Hồ như Tôn Nữ thị Ninh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng… sang chiêu dụ về ăn khế ngọt và “hưởng” gái đẹp mà rẻ, vội quên mất những ngày bỏ của chạy lấy người, té đái vãi cứt trong quần để mau mau thoát khỏi bàn tay nhuốm đầy máu của Cộng sản, đã ôm đô la, mồ hôi nước mắt bao nhiêu năm cày hộc máu dành dụm, “hồ hởi phấn khởi” hí hửng về nước để “sung sướng và cảm động” được nhận bằng khen và những cái vuốt tóc, xoa đầu của đám lãnh đạo Bắc Bộ phủ.
Rồi sau đó chẳng bao lâu, cả lũ phải ngậm đắng, nuốt cay, âm thầm tủi nhục trở lại xứ người với hai bàn tay trắng vì đã bị đảng lừa, lột cho sạch sành sanh đến cái lai quần.
Trần Trường là một điển hình trong những thằng ngu và tham đó.
Cứ những tưởng cái đám chóp bu Bắc Bộ phủ đã thấy cái ngu dốt của mình sau hơn mười năm đã làm cho đất nước tụt hậu, đói nghèo mà mở mắt ra, mở óc ra suy nghĩ và nhìn ra bên ngoài để “tiếp thu” ánh sáng văn minh của nhân loại rồi bắt chước để thay đổi lề lối cai trị, điều hành đất nước cho khá hơn, tiến bộ hơn, hy vọng nước nhà sẽ vươn lên sánh vai với các nước xung quanh.
Nào ngờ đâu, cái đám ngu có “gien” di truyền này, hết tên này đến tên khác thay nhau lên ngồi trên ghế cao quyền lực, tiếp tục đè đầu cưỡi cổ dân đen để bóc lột, để ăn cướp cho đầy túi tham. Chúng bày ra cái chiêu bài “Đổi mới” cốt để làm tấm bình phong che đậy và hợp thức hóa những tài sản kếch sù chúng vơ vét được. Bắt đầu cái gọi là “Đổi mới” với chính sách “kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa”, cả một tập đoàn cộng sản từ tên Tổng Bí thư cao nhất nước cho đến tên công an phường tép riêu, đứa nào nào cũng đều xắn tay áo lên “làm kinh tế”.
Quân đội làm kinh tế. Công an làm kinh tế. Hàng ngàn, hàng vạn “Công ty quốc doanh” dưới danh nghĩa Quân đội Nhân dân, Công An Nhân dân ra đời. Cuối năm, tổng kết tình hình doanh thu, Công ty nào cũng báo cáo thua lỗ hàng trăm tỷ đồng. Công ty thì thua lỗ nhưng Ban Giám đốc thì giàu sụ. Ai ai cũng thừa biết Ban Giám đốc đều là vợ, con, em, cháu của anh Ba, chú Sáu, bác Bảy… “ở trển” trình độ học chưa hết bậc Tiểu học, nhảy lên địa vị cao (dám đốc – dám bậy) làm kinh tế y như chó nhảy bàn độc. Chúng đua nhau bòn rút công quĩ để chia chác bỏ túi riêng, bỏ mặc cho dân nghèo oằn lưng nộp sưu cao thuế nặng để bù lỗ cho chúng.
Chỉ trong vòng có mấy năm mà bọn chúng đứa nào cũng trở thành “tư bản đỏ”, giàu có ngất trời, tiền đô tươi hàng tỷ, vàng khối hàng tấn, nhà xây thành phủ tráng lệ nguy nga, xe hơi sang trọng trị giá cả triệu đô.
Mới đây, không biết vô tình hay cố ý hoặc báo chí chơi khăm, phơi lên mặt báo một loạt hình ảnh nhà cửa của Ngài Cựu Tổng Bí thư đảng, Lê Khả Phiêu, một nhân (dương) vật được đảng ca tụng là thanh quan, liêm khiết, lớp trong, lớp ngoài xa hoa tráng lệ không khác gì cung tẩm của vua chúa ngày xưa. Đồ vật trong nhà đều là hàng đắt tiền xa xĩ. Cặp ngà voi thôi trị giá cũng hơn 50.000 đô. Vườn rau trên lầu hai cũng cỡ 20.000 đô. Chưa kể cái trống đồng, cổ vật ngàn năm, đổ quốc bảo của quốc gia, vị quan thanh liêm này cũng “đỡ” nhẹ đem về nhà mình làm của riêng.
Quan thanh liêm mà giàu có quá mức như vậy, thì thử hỏi đám tham quan sẽ giàu đến mức nào?
Vụ Cựu TBT Lê Khả Phiêu bùng xoè bất ngờ, đảng bịt mồm không kịp nên dân ngu cu đen, khố rách áo ôm mới biết được cái tẩy của đảng, làm cho Bộ Chính trị nổi cơn thịnh nộ lôi đình một dạo. Không biết có anh nhà báo nào bị truy tố ra tòa vì tội “tiết lộ bí mật quốc gia” không?
Trước những hành vi tham nhũng của bộ máy cai trị ngày càng khủng khiếp đã trở thành quốc nạn, những sĩ phu yêu nước lên tiếng can ngăn, tố cáo đều bị chúng dùng bạo lực trấn áp, tù đày.
Kẻ khác xót xa cho đất nước điêu linh dưới sự thống trị tàn bạo của chúng thì đành gạt nước mắt mà than rằng “Đất nước mình nó như thế!”. Than ôi!
Tháng tư năm nay lại thêm sự kiện “Bô xít Tây Nguyên”, tiếp theo sau các vụ mất đất biên giới, ải Nam Quan, thác Bản Giốc, mất biển vịnh Bắc Bộ, mất đảo Hoàng Sa, Trường Sa, càng chứng minh rõ thêm rằng tập đoàn Bắc Bộ phủ thực sự đã bán nước cho giặc Tàu rồi, không thể chối cãi vào đâu được.
Trước sự phẩn nộ, phản đối của cả nước gồm có đại tướng Giáp, khoa học gia, nhân sĩ hàng trăm, hàng ngàn người mà Nguyễn Tấn Dũng cứ khăng khăng ký quyết định cho phép Tàu vào khai thác và tuyên bố chắc như đinh đóng cột rằng “Đó là chủ trương lớn của đảng”, đảng đã “quyết” rồi, cấm có ai ý kiến. Người dân đoán biết là mọi sự đã “hợp tác toàn diện” giữa Bắc triều và các thái thú Nam triều trong những lần sang chầu phục ở Bắc kinh rồi, khó lòng mà thay đổi được.
Bí mật giữa Thiên triều và bọn thái thú An Nam trong bốn chữ “hợp tác toàn diện” là gì? Chỉ là:
– Tây Nguyên hay cái ghế và chỗ đội mũ thái thú ?
– Dạ thưa Tây Nguyên ạ!

Ngày 30 tháng 4 năm nào người Việt hải ngoại cũng đều đau buồn tổ chức lễ tưởng niệm ngày Quốc Hận. Đó là điều hay, đáng mừng và nên tiếp tục giữ gìn như một truyền thống. Đó là dịp để nhắc nhở các thế hệ con cháu đời sau ghi nhớ rằng vì cái ngày 30/4 đen tối này mà chúng ta phải bỏ nước ra đi và phải ghi tâm, khắc cốt, lập chí để trở về đuổi bọn cộng sản ra khỏi đất nước, quang phục quê hương, đem tự do, nhân quyền cho dân tộc.
Nhưng cũng đáng buồn lòng thay, sau đó cộng đồng lại quay ra chia rẽ, đấu đá lẫn nhau. Có lúc đôi bên đã đi đến chổ không khoan nhượng. Trong lúc đó cộng sản ráo riết tăng cường sức mạnh, khi lén lút lúc ra mặt đánh phá, phân tán lực lượng vốn đã yếu và rời rạc của ta.
Kết cục chuyện “Recall Madison Nguyễn” vừa qua là một bài học đắt giá đáng suy ngẫm về hai chữ đoàn kết.
Xem ra tình hình cộng đồng hải ngoại hiện nay giống hệt tình cảnh quần hùng hội tụ trên núi Thiếu Lâm để tìm cách đối phó với ma giáo Triêu Dương Thần Giáo trong truyện “Tiếu ngạo giang hồ” của nhà văn Kim Dung.
Trong lúc bên chánh phái, vốn nhiều phe phái, tranh nhau khoe tài, khoe giỏi, khua môi múa mỏ, ai cũng muốn làm minh chủ, cãi nhau như mổ bò, không ai chịu nhường ai, rốt cuộc chẳng đưa ra được kế sách gì để giải nguy thì bọn giáo chúng của ma giáo tuyệt đối theo lệnh của Độc tôn Nhậm Ngã Hành Giáo chủ, nhắm mắt răm rắp xông lên tấn công chém giết đám chánh phái không nương tay và đồng thề rằng “giết sạch hết! gà, chó cũng không tha”.
Dĩ nhiên, không cần đọc tiếp đoạn kế, ai cũng đoán được cái đám “tự do to mồm” sẽ ôm đầu máu, thua chạy tan tác như bầy vịt để… di tản.
Thêm nữa, cũng vì bốn chữ “tự do to mồm” mà cộng đồng người Việt đã bao phen “xang bang xất bất” (tha bang thất quốc) với cái bọn nhãi ranh (hậu sinh khả ố) nhờ cha mẹ đã liều thân, mười chết một sống, để đùm túm chúng vượt thoát nanh vuốt loài quĩ đỏ đi tìm tự do. Khi sang được bến bờ tự do rồi còn ráng chịu cực, chịu khổ để nuôi chúng ăn học thành người. Hôm nay chúng lại đua đòi làm dáng thời thượng (chưa hẵn là chúng bị cộng sản tuyên truyền) chơi nổi, chơi ngông để “cho người biết mặt cho đời biết tay” rằng ta đây học vị, bằng cấp, tài năng đầy mình, bất kể lời khuyên dạy của cha mẹ hay những bậc trưởng thượng, đi làm trò khỉ, rởm đời mà chúng gọi là “Nghệ thuật”, “Nghệ thuật lên tiếng” (?). Như Huỳnh Thủy Châu với cái chậu rửa chân vẻ hình cờ vàng, Brian Đoàn triễn lãm cờ đỏ, tượng Hồ – Cờ vàng kẽm gai, Trần Trường thờ nón cối, hình Hồ râu nơi buôn bán là những vụ điển hình đã làm cho cộng đồng vừa xót xa đau khổ,vừa tủi hờn tức giận, mất nhiều thì giờ và hơi sức để dạy cho chúng biết thế nào là bất hiếu với đấng sinh thành, thế nào là phản bội tập thể cộng đồng, để học làm người chân thật, ngay thẳng, không nên học thói “ăn cháo đái bát” của lũ người vô lương.
Chưa kể còn có mấy tờ báo, tạp chí, mấy đài phát thanh, truyền hình thậm thụt đi đêm với giặc Cộng, “ăn cơm Huê Kỳ thờ ma cộng sản”, rình rình thiên hạ lơ đễnh mất cảnh giác, liền “cõng” một hai bài “nâng bi, bợ bô Cộng” dấm dúi cho vào báo, vào đài mình để lập công dâng đảng khiến cho cộng đồng càng thêm đau đầu không ít.
Lại còn có mấy kẻ nhờ ơn Mỹ mà thành tiến sĩ, thạc sĩ, bây giờ đã no cơm ấm cật, rửng mỡ, ngày ngày cùng vợ con ở nhà Mỹ, đi xe Mỹ, hưởng tiền trợ cấp của Mỹ để… viết báo, làm website bênh “bác”, kể lể công ơn đảng, đâm bị thóc, thọc bị gạo, gây mâu thuẫn giữa các tôn giáo, hăng hái thực thi Nghị quyết 36 khích bác người tị nạn và chửi Mỹ tàn tệ với hy vọng rằng ngày nào đó sẽ được đảng mời về ban cho chút sái và tặng cho bằng khen …vô sỉ.
Những kẻ có tâm địa phản phúc, tráo trở làm nội gian cho giặc nên đọc lại Tam Quốc chí để thấy cái họa sát thân của mình mà Tào Tháo y như Cộng sản bây giờ đã và sẽ dùng. Chỉ nhắc sơ lại một chút, lúc chưa hạ được thành, Tháo cho người mua chuộc người hay quan lại trong thành để làm nội ứng mở cửa thành, khi Tháo tấn công xông vào. Vừa lấy được thành xong, lập tức Tháo cho chém ngay kẻ nội gian với câu mắng: “Mày ăn lương chúa mà phản chúa, thứ như mày còn để sống làm gì cho chật đất!”
Biết đến bao giờ người Việt hải ngoại mới từ bỏ hết những tị hiềm, những bất đồng nhỏ nhặt cá nhân để cùng nhau đoàn kết một lòng, chung một tiếng nói đấu tranh chống cộng, tìm kiếm và bầu ra một vị lãnh đạo, một minh quân có đầy đủ đức tài, nhiệt tâm yêu nước và uy tín khả dĩ thu phục được nhân tâm để giương cao ngọn cờ chính nghĩa “diệt Cộng trừ gian”, ban hiệu lệnh “nhất hô bá ứng”. Được như thế, lo gì chế độ phi nhân cộng sản sớm muộn chẳng hui nhị tì. Riêng cái đám đón gió trở cờ, khoác áo tị nạn lại làm trò con tườu cho cộng sản chẳng cần ai bóp mũi chúng cũng tự tắt hơi mà chết.

Tâm tình của người Việt xa xứ lúc bỏ nước ra đi đâu phải mơ ước được giàu sang, ăn ngon mặc đẹp, ở nhà lớn, đi xe sang ở xứ người như lũ Cộng tuyên truyền bêu xấu, bôi đen để hạ nhục.
Thoạt đầu, từ những năm 1975 đến 1986 hầu hết đều liều chết ra đi chỉ cốt để lánh nạn Cộng sản, một thú bệnh ôn dịch có thể giết người tàn bạo không ghê tay. Tết Mậu Thân ở Huế đập đầu, chôn sống ba ngàn người. Đoàn người di tản trên đại lộ kinh hoàng từ Phú Bổn xuống đèo Phượng Hoàng Khánh Hòa… Cộng sản đã ra tay pháo bom đạn theo tàn sát cơ man nào là đồng bào vô tội, trẻ con, đàn bà, người già…thân xác tan nát chất đầy đường. Đó là những hình ảnh khủng khiếp, hãi hùng, ghê rợn quá khiến cho người ta phải hốt hoảng, sợ hãi, vội vã bỏ nước ra đi để tìm chốn an toàn và tự do.
Sự liều chết ra đi đó đã phải trả bằng một giá quá đắt. Một nửa số người đó đã để lại thân xác trong lòng biển cả hay trong chốn rừng sâu núi thẳm.
Sau đó lại nhiều đợt ào ạt tiếp tục ra đi dưới hình thức hợp pháp như “Đoàn tụ gia đình”, Chương trình nhân đạo tù cải tạo”, “Con lai”…
Có ai biết trước được rằng ở nơi xứ lạ quê người bên kia nửa vòng trái đất, ngôn ngữ bất đồng, phong tục tập quán khác xa, trăm muôn ngàn khó trước mắt đang chờ đợi mà người ra đi với hai bàn tay trắng, tương lai sẽ ra sao?
Ngày trước, nước ta bị một ngàn năm nô lệ giặc Tàu, một trăm năm đô hộ giặc Tây nhưng lịch sử chưa hề có trang nào, dòng nào ghi chép rằng dân tộc Việt đã phải bỏ nước ra đi lánh nạn, dù chỉ là một, hai trường hợp điển hình. Vậy cớ sao, năm 1975, gọi là Bắc Nam sum họp thống nhất một nhà, người Việt lại phải cuống cuồng lũ lượt kéo nhau đi tị nạn y như năm 1954 người Bắc di cư vào Nam, khi đất nước chia hai?
Dù bị hà hiếp, bị bắt làm nô lệ lên rừng kiếm ngà voi, xuống biển mò ngọc trai… người dân Việt vẫn cứ bám lấy nơi chôn nhau cắt rốn, bám lấy lũy tre xanh, bám lấy ruộng vườn, con trâu cái cày để cố sống chờ ngày quật khởi, lấy lại độc lập tự do cho quê hương, xứ sở chớ đâu có ai nở lòng bỏ làng xóm, đất nước ra đi để cầu mong cái “vinh thân phì gia” đầy tủi nhục như Cộng sản hàm hồ gán tội cho người đi tị nạn hầu khỏa lấp tội ác ngất trời của mình.
Không cần phải giải thích dài dòng lý do này, nguyên do nọ. Chỉ là chuyện dư thừa. Đã 34 năm qua rồi, một quãng thời gian quá đủ dài, thực trạng xã hội đã bóc trần bộ mặt của cái chế độ phi nhân, phơi bày trần trụi ra giữa ánh sáng ban ngày giống như hồ nước khi cạn lộ trơ ra cái đáy bẩn thỉu đầy bùn nhớt hôi hám và lổn nhổn những mãnh sành, ve chai, cọc nhọn, vô vàn rác rến, …
Đã 34 năm rồi, người Việt trong nước vẫn lũ lượt ra đi. Ra đi để mong thoát khỏi cái “thiên đường xã nghĩa” đầy dẫy áp bức, bất công, nghèo đói. Ra đi để mong thoát khỏi bọn cường quyền ác bá, tham nhũng bóc lột và tàn ác man rợ.
Thanh niên bán nhà, cầm cố gia sản hoặc vay mượn nợ lãi cao, hối lộ đám tham quan, để được đi “xuất khẩu lao động” tận Phi châu, Hồi quốc, Mã Lai, Hàn quốc… xa xôi.
Thiếu nữ nông thôn từ quê trốn lên tỉnh chen chân nơi đám buôn người mong kiếm đượcngười chồng ngoại như Đài Loan, Hồng Kông, Xingapo, Trung Quốc… mặc cho thân xác phải lột truồng trước mắt bọn ngoại bang săm soi chọn lựa, và mặc cho tương lai sẽ ra sao thì ra nơi xứ người.
Đời thưở nào, từ xưa tới nay, nước Việt lại xãy ra cái cảnh đau khổ, khốn nạn tự mình đi bán thân làm nô lệ cho người ngoại xứ mà cười ra nước mắt như bây giờ?
Những năm mới “giải phóng” người dân bị “phỏng giái” mới phải ra bỏ nước ra đi thì bị bọn người từ trong rừng rú rượt theo cướp vàng, của cải và chửi bới, nguyền rủa không tiếc lời rằng “những thứ Ngụy ma cô, đĩ điếm, phản quốc chạy theo ôm chân đế quốc để được bơ thừa sữa cặn”.
Ngày nay, trước giờ hấp hối của con cà cuống, bọn người rừng đó lại tìm đủ mọi cách “viễn tẫu cao phi” như cho con du học, cưới chồng, gã vợ cho “Ngụy có quốc tịch Ngoại”, để đưa con, cháu sang các nước “đế quốc tư bản hút máu” để “cài người, cắm chốt”, lập “thế ỷ dốc” lâu dài, tuồn tiền của đã cướp bóc được trong nước ra ngoài cất dấu, chờ ngày tàn của chế độ Cộng sản Việt Nam như Liên Xô và Đông Âu thì mau chân, lẹ cẳng cao bay xa chạy sang đó để tiếp tục cuộc sống phè phởn đầy “tiểu và nhục” (giọng Bắc: rượu và thịt).
Để chuẩn bị chu đáo cho ngày đó, bọn người rừng đã từng bước một, quay cái lưỡi tráo trở, lật lọng lại 180 độ, thơn thớt nói cười (Mà trong nham hiểm giết người không dao. Kiều) đổi giọng ngọt ngào gọi người Việt hải ngoại, nào là:
– Việt kiều yêu nước!
– Khúc ruột ngàn dặm!
– Thịt máu của dân Việt!
– Hòa hợp hòa giải dân tộc!
– Đánh người chạy đi không đánh người chạy lại!
– V.v…
đủ thứ ngôn từ con cò, con cuốc ngọt lịm như mật ong của con cáo giảo quyệt đứng dưới đất, muốn cướp miếng phó mát của con quạ trên cành cây cao, đang ra sức ca lời tâng bốc, chiêu dụ trong truyện ngụ ngôn của Lã Phụng Tiên ở bên Tây (Jean de La Fontaine).
Mấy năm gần đây, con số thống kê du sinh sang học ở “đế quốc” Hoa Kỳ, Canada, Pháp con số hơi “bị” nhiều. Con số du sinh sang các nước Xã hội Chủ nghĩa anh hùng như Cuba vĩ đại, Bắc Hàn vĩ đại, Trung Quốc vĩ đại hơi “bị” rất ít. Đó là những con số xem ra rất lạ, rất “bức xúc” và “nhạy cảm”.
Chuyện ông Thủ tướng nước “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ra ngõ gặp anh hùng” Nguyễn Tấn Dũng chịu “hòa hợp hòa giải” hạ mình xuống đám “phe phẩy” làm sui với tên Ngụy phản quốc ôm chấn đế quốc Mỹ là chuyện tiếu lâm thời đại Xã nghĩa hay nhất trong năm 2008, được người trong nước đem ra kể cho nhau nghe lúc trà dư tửu hậu, cũng là thể hiện cái bước chuẩn bị cho bài “tẫu mã” sau này.

Tháng tư năm nay lại về, nghĩ xa thôi lại nghĩ gần. Đã là 18 lần tháng tư rồi. Làm thân tị nạn nơi đất khách quê người chỉ là chuyện bất đắc dĩ tạm thời, ai mà không mong muốn đất nước mau được thanh bình, người người được cơm no, áo ấm, được tự do dân chủ để có ngày trở lại quê hương. Với ba triệu người Việt hải ngoại với cả một kho tàng chất xám nhân tài trên mọi lãnh vực khoa học, kỹ thuật…của thế hệ tuổi trẻ tương lai, cả một kho tàng của cải kếch sù tích trữ… nếu tất cả thứ ấy được mang về nước để góp sức, chung tay canh tân, xây dựng thì đất nước thì Việt Nam chỉ cần trong vòng từ hai đến năm năm chắc chắn sẽ hưng thịnh, mạnh giàu, tiến bộ nhanh chóng có thể sánh vai với các lân bang.
Nhưng bất hạnh và mĩa mai thay cho đất nước, những tên chóp bu ở Ba Đình chỉ cần tiền chứ không dụng nhân tài. Mỗi năm 8 tỷ đôla “tiền tươi” từ đám người hải ngoại giàu lòng nhân ái gửi về giúp thân nhân, giúp người cơ khổ sống tạm qua ngày đều chạy vào túi tham quan là thỏa mãn yêu cầu rồi.
Mất 34 năm để xây dựng “xã hội chủ nghĩa” bằng “chuyên chính vô sản” ngập tràn máu và nước mắt, đảng Cộng sản Việt Nam đã tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc đã bắt kịp Bắc Hàn và Cuba về phương diện nghèo đói và lạc hậu để rồi thình lình quay ngoắc lại 180 độ “Đổi mới”, chạy theo đế quốc tư bản để làm “kinh tế thị trường”.
Ngày ngày đám diễn viên chèo trên sân khấu Ba Đình mặc áo Cộng sản đỏ lòm, đỏ loét, hò hét i uông, múa may quay cuồng đóng vai “tư bản đỏ” trong vở tuồng “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” khiến người xem cảm thấy rất chướng mắt, chối tai nhưng cũng ráng ngồi xem cho đến hồi vãn tuồng để biết kết cuộc sẽ kết thúc ra sao với hy vọng “sau cơn mưa trời lại sáng”, “hết cơn bĩ cực đến hồi thới lai”.
Dè đâu, xuyên qua việc đảng Cộng sản nhất quyết một mực khăng khăng cho Tàu đem hàng vạn nhân công vào khai thác quặng bô xít ở Tây Nguyên, bất chấp trăm cái tác hại khủng khiếp do bụi và bùn đỏ gây ra, lâu dài hàng thế kỷ, thế hệ con cháu trong tương lai phải gánh chịu mà những bậc thức giả biết nghĩ xa, trông rộng đã vạch ra và hết lòng can ngăn cộng với vụ việc mất đất, mất biển, mất đảo dần dần, người dân thấy rõ ràng tập đoàn lãnh đạo Hà Nội đã bán đứng giang sơn, tổ quốc cho giặc Tàu cộng rồi.
Hiện nay dân Tàu cộng có thể ngang nhiên vào Việt Nam, hàng ngàn, hàng vạn người, ồ ạt đổ vào, đi đứng tự do từ địa đầu biên giới phía Bắc đến tận mũi Cà Mau mà không cần phải có giấy Thông Hành, trong khi người Việt trong nước muốn đi từ địa phương này đến địa phương khác đều bị bắt buộc xin phép “tạm trú – tạm vắng”, người Việt hải ngoại muốn về thăm nhà cũng buộc phải xin giấy “Chiếu khán” của Tòa Đại sứ Cộng sản mới được phép về đã chứng tỏ Việt Nam không có chủ quyền. Quyền quyết định mọi việc trong nước rõ ràng là do Trung Quốc nắm giữ.
Bộ Chính trị đảng Cộng sản Việt Nam chỉ là đám thái thú của Tàu, do Tàu chỉ định và sai khiến.
Chuyện tên nước Việt Nam sẽ đổi thành tỉnh Quảng Nam, một tỉnh của Trung Quốc chỉ là chuyện sớm muộn.
Lúc đó, người Việt hải ngoại sẽ không còn lý do gì để trở về cố quốc nữa.
Chim Việt không còn cần tìm cành Nam để đậu nữa.
Ngựa Hồ nghe gió bấc thổi về cũng ngậm miệng lại không thèm hí nữa,
Tổ quốc Việt Nam thực sự đã mất vào tay giặc Tàu rồi.
Kẻ lưu vong này cũng đành cam gạt nước mắt nhận nơi này làm quê hương thứ hai để gửi nắm xương tàn nơi đất khách tốt hơn là được yên nghĩ ấm êm nơi quê nhà giờ đã thành đất giặc.

Boston, 30/4/09

Bài Khác